Giữa 1
giữa 2 Gữa 3 Giữa 4 Giữa 5

Cup và danh hiệu

   Công nghệ xử lý nước thải nào phù hợp cho đô thị Việt Nam?

 XLNT tại một số địa phương còn nhiều bất cập

Tại Hội thảo “Phát triển nguồn nhân lực và hướng tiếp cận các công nghệ mới, tiên tiến trong lĩnh vực thoát nước và xử lý nước thải” được tổ chức tại Hà Nội, tham luận từ Sở Xây dựng Hà Nội cho biết: Hiện nay, hệ thống thoát nước Hà Nội là hệ thống chung cho cả nước mưa và nước thải. Nước thải bao gồm cả nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp, bệnh viện. Do việc đầu tư hệ thống thu gom và nhà máy xử lý nước thải đang triển khai, nên hiện tại, Hà Nội chỉ có một số trạm và nhà máy xử lý đang hoạt động như: Nhà máy xử lý nước thải Bắc Thăng Long - Vân Trì; trạm xử lý nước thải Kim Liên, Trúc Bạch, Bảy Mẫu, Hồ Tây, Yên Sở… Vì vậy, chỉ một phần nhỏ lượng nước thải được xử lý (khoảng 23,2%), phần còn lại gần như không được xử lý và xả thẳng vào hệ thống thoát nước chung của thành phố. Nước thải chưa qua xử lý là nguyên nhân khiến kênh mương, ao hồ bị ô nhiễm nghiêm trọng.

Hiện nay, đại đa số các nhà máy XLNT đô thị ở Việt Nam đều sử dụng phương pháp sinh học với các công nghệ: Công nghệ bùn hoạt tính, công nghệ lọc sinh học, công nghệ hồ sinh học, xử lý cơ học. Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều bất cập trong quá trình vận hành.

Ông Đặng Minh Dũng - Phó Giám đốc Cty Thoát nước và Xử lý nước thải Đà Nẵng cho biết, Đà Nẵng đang có 4 trạm xử lý nước thải sử dụng công nghệ hồ kỵ khí đơn giản là Phú Lộc, Hòa Cường, Sơn Trà và Ngũ Hành Sơn. Đây là công nghệ XLNT ít tốn kém nhất, không cần dùng năng lượng điện và tách các chất ô nhiễm đạt hiệu quả. Tuy nhiên, sau thời gian đi vào vận hành, từ cuối năm 2009 đã phát sinh một số vấn đề. Đó là, nước thải sau khi xử lý phát sinh mùi ảnh hưởng đến môi trường xung quanh; lượng bùn tích tụ trong lòng hồ không được kiểm soát và tăng theo thời gian đã làm giảm sức tải của hồ, dẫn đến hiệu suất xử lý chất hữu cơ sẽ giảm.

Theo chiến lược quản lý chất thải đến năm 2020 của TP Đà Nẵng cũng như xây dựng thành phố Đà Nẵng - thành phố môi trường vào năm 2020, để giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường liên quan đến các trạm xử lý nước thải thì việc nâng cấp các trạm xử lý nước thải là cần thiết.

Lựa chọn công nghệ nào phù hợp?

Việc lựa chọn công nghệ xử lý thể hiện tại đang là thách thức lớn hầu hết của các địa phương. Tài chính, chính trị, thể chế và văn hóa cũng là những yếu tố quan trọng để ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các nhà máy này. Thông thường, để đảm bảo vệ sinh môi trường, nước thải sẽ phải được xử lý thông qua các nhà máy XLNT.

Tuy nhiên, theo GS.TS Nguyễn Văn Phước - Viện trưởng Viện Môi trường và Tài nguyên - Đại học Quốc gia TP.HCM thì số lượng các nhà máy XLNT tại các khu đô thị của Việt Nam còn hạn chế. Tới năm 2011, chỉ 6/68 đô thị loại II hoặc cao hơn (Hà Nội, TP.HCM, Hạ Long, Đà Nẵng, Đà Lạt và Buôn Ma Thuột) có các nhà máy XLNT. Những nhà máy này chỉ vận hành khoảng 28% công suất thiết kế hoặc tạm ở chế độ tạm ngưng do thiếu kinh phí cho hoạt động vân hành và bảo dưỡng cũng như thiếu kinh phí thu gom nước thải để xử lý, vì vậy khối lượng nước thải được xử lý rất khiêm tốn.

Việc sử dụng rộng rãi bể tự hoại ở những khu vực có hệ thống thoát nước có thể là một thách thức cho các nhà máy XLNT, do nồng độ ô nhiễm thấp không đủ nguồn năng lượng cho vi sinh vật trong hệ thống xử lý.

GS Phước phân tích, quy trình công nghệ đề xuất hầu hết tại các nhà máy xử lý nước thải đô thị ở nước ta một cách tổng quát như sau: Nước thải được đưa về trạm bơm qua song chắn rác để loại các rác có kích thước lớn rồi bơm qua bể lắng cát. Nước thải từ bể lắng cát đưa vào bể điều hòa và qua hệ thống xử lý chính áp dụng công nghệ sinh học, có thể là: UASB, Acrotank, hồ sinh học, lọc sinh học, SBR… tiếp theo qua bể lắng thu bùn sinh học. Nước sau xử lý được qua khử trùng, dẫn về hồ hoàn thiện để kiểm soát các thành phần ô nhiễm trước khi thải ra nguồn tiếp nhận. Bùn từ công đoạn sinh học được đưa qua bể nén bùn và thiết bị làm khô bùn. Mùi hôi phát sinh từ hệ thống sinh học và xử lý bùn cũng được thu gom và xử lý phương pháp sinh học hoặc lý hóa.

Lý do sử dụng công nghệ sinh học cho xử lý nước thải đô thị là vì nước ta nằm trong khu vực nhiệt đới, nhiệt độ phù hợp cho sự phát triển của vi sinh nên tăng cường quá trình trao đổi chất của vi sinh vật, tăng khả năng chuyển hóa dẫn đến hiệu quả xử lý cao, diện tích sử dụng đất thấp đồng thời không sử dụng hóa chất trong quá trình hoạt động, chi phí vận hành thấp.

Theo GS Phước thì công nghệ sử dụng UASB vào giai đoạn tiền xử lý kết hợp xử lý hiếu khí phía sau giúp tiết kiệm chi phí xử lý, quản lý bùn tự hoại, có thể chạy được tải trọng thấp, chi phí xây dựng và vận hành thấp, khử nitơ, lượng bùn thải ra ít, tác động đến môi trường không đáng kể, giúp đô thị phát triển bền vững.

Có nhiều công nghệ áp dụng cho quá trình XLNT đô thị, nhưng để có thể chọn được công nghệ phù hợp nhất cả về kỹ thuật lẫn kinh tế cho khu vực của mình, thì cần phải phụ thuộc vào nhà hoạch định, chính quyền địa phương.



  Các Tin khác